ƯU ĐÃI 18% HỌC PHÍ KHÓA LUYỆN THI IELTS

CAM KẾT ĐẦU RA 6.5+, COACHING 1-1 CÙNG CHUYÊN GIA

KHÓA IELTS CAM KẾT ĐẦU RA 6.5+

ƯU ĐÃI ĐẾN 18% HỌC PHÍ

Giải đề Investigating Taste IELTS Listening: Transcript & Answer

Đề Investigating Taste trong phần IELTS Listening là một trong những bài nghe có nội dung học thuật thường gặp trong đề thi thật. Bài nghe này không chỉ giúp thí sinh làm quen với cấu trúc đề thi IELTS Listening mà còn rèn luyện khả năng nắm bắt thông tin chi tiết và xử lý các dạng câu hỏi quen thuộc. Trong bài viết dưới đây, Langmaster sẽ giúp bạn giải thích chi tiết từng câu hỏi của đề Listening này, phân tích đáp án rõ ràng, đồng thời hướng dẫn cách tiếp cận bài nghe hiệu quả hơn!

1. Đề bài Investigating Taste

Questions 31-40

Complete the table below.

Write NO MORE THAN ONE WORD for each answer.

INVESTIGATING TASTE
Procedure Result Cause
more yellow added to green colour of (1) __________ subjects believed extra (2) __________ added to drink brain influenced by product presentation
gum chewed until it is (3) __________, then again with sugar mint flavor (4) __________ sweetness necessary for mintiness
same drink tasted cold and at room temperature (5) __________ drink seems sweeter temperature affects sweetness
crisps eaten in rooms which were (6) __________ with louder crunch, subjects believed crisps taste (7) __________ sound affects taste perceptions
variety of cheese sauces prepared subjects believed some sauces tasted less strong (8) __________ affects taste perceptions
two different flavoured (9) __________ tasted toge

subjects still tasted (10) __________ when no longer there

brain is filling the taste 'gap'

2. Transcript Investigating Taste

This morning I'm going to describe for you a few of the kinds of experiments that have been used to investigate the sense of taste, which is now recognised as being a far more complex and important area of neurological science than was previously believed by most people. (Sáng nay, tôi sẽ mô tả cho các bạn một vài loại thí nghiệm đã được sử dụng để nghiên cứu vị giác – một lĩnh vực giờ đây được công nhận là phức tạp và quan trọng hơn nhiều trong khoa học thần kinh so với những gì phần lớn mọi người từng nghĩ.)

The results of some of these experiments can be quite fun and I shall suggest that you may want to choose one or two to try out in groups before having a go at designing a new experimental procedure of your own and trying to pinpoint the cause of your findings. (Kết quả của một số thí nghiệm này có thể khá thú vị, và tôi sẽ gợi ý rằng bạn có thể chọn một hoặc hai trong số đó để thử theo nhóm trước khi tự thiết kế một quy trình thí nghiệm mới và cố gắng xác định nguyên nhân dẫn đến kết quả của mình.)

The first one concerns a marketing exercise by a soft drinks company. The green colour of some cans Q1 was altered by the addition of yellow, so they were a brighter green. (Thí nghiệm đầu tiên liên quan đến một hoạt động tiếp thị của một công ty nước giải khát. Màu xanh của một số lon được thay đổi bằng cách thêm màu vàng, khiến chúng trông xanh sáng hơn.)

Then test subjects were asked what they thought about the flavour of the drink in the new-style cans, and they stated that there was more lime Q2 in the drink if it was in the ones with the new colour. (Sau đó, những người tham gia được hỏi về hương vị của đồ uống trong những lon có thiết kế mới, và họ cho rằng đồ uống trong những lon có màu mới có vị chanh nhiều hơn.)

This was because the brain picks up cues from the way the product is presented, as well as the product itself, which trigger taste sensations. Before food was packaged, humans used colour to gauge the ripeness of fruit, for example. (Điều này là do não bộ tiếp nhận tín hiệu không chỉ từ bản thân sản phẩm mà còn từ cách sản phẩm được trình bày, những yếu tố này kích hoạt cảm giác về vị giác. Ví dụ, trước khi thực phẩm được đóng gói, con người sử dụng màu sắc để đánh giá độ chín của trái cây.)

Next there's the old problem with chewing gum. Everyone knows that after a few minutes’ chewing it loses its minty flavour. (Tiếp theo là một vấn đề quen thuộc với kẹo cao su. Ai cũng biết rằng sau vài phút nhai, vị bạc hà sẽ biến mất.)

However, if you ask people to chew up to the point where it becomes tasteless Q3, and then ask them to eat a little sugar and continue chewing, to most people's surprise, what happens is that the original mintiness actually returns Q4 because it is the sweetness which is needed to make the mintiness perceptible. (Tuy nhiên, nếu bạn yêu cầu người ta nhai cho đến khi kẹo không còn vị gì, rồi cho họ ăn một chút đường và tiếp tục nhai, điều bất ngờ là vị bạc hà ban đầu thực sự quay trở lại vì chính vị ngọt là yếu tố cần thiết để vị bạc hà có thể được cảm nhận.)

So combinations of flavours can be significant, as the brain needs one of them in order to recognise the other.(Vì vậy, sự kết hợp giữa các hương vị có thể rất quan trọng, vì não bộ cần một vị để nhận biết vị còn lại.)

Another experiment demonstrates something we’ve all done. Drink half a fizzy drink straight from the fridge and then leave it at room temperature for a while. (Một thí nghiệm khác minh họa điều mà hầu hết chúng ta từng trải qua: uống một nửa lon nước ngọt có ga lấy từ tủ lạnh, rồi để phần còn lại ở nhiệt độ phòng một lúc.)

Take a sip and you may well decide you don't like it. The warm Q5 drink is too sweet to be refreshing. (Khi bạn uống thử lại, có thể bạn sẽ không thích nữa. Đồ uống khi ấm sẽ quá ngọt và không còn cảm giác sảng khoái.)

So put the rest back in the fridge until it’s chilled again. Now try it. Much better. (Vì vậy, hãy để phần còn lại vào tủ lạnh cho lạnh trở lại. Giờ thử lại đi, ngon hơn hẳn.)

Of course the sweetness doesn't change, it is our perception, because how sweet it tastes depends on the temperature. The extent to which the drink is sweetened is less evident if the drink has been cooled. (Tất nhiên độ ngọt của đồ uống không thay đổi, đó là do cảm nhận của chúng ta, vì vị ngọt được cảm nhận khác nhau tùy theo nhiệt độ. Khi đồ uống được làm lạnh, vị ngọt sẽ ít được cảm nhận hơn.)

Another interesting result has been derived from experiments with sound. One of these involved eating crisps. Subjects were put into soundproof Q6 rooms and given batches of crisps to eat. (Một kết quả thú vị khác đến từ các thí nghiệm liên quan đến âm thanh. Một trong số đó là thí nghiệm với khoai tây chiên. Những người tham gia được đặt trong phòng cách âm và được cho ăn các mẻ khoai tây chiên.)

As they ate, the sound of crunching which they made as they ate the crisps was played back to them. This was adjusted so that they sometimes heard the crunching as louder, or, at other times, more high–frequency sounds were audible in the sound feedback that accompanied their eating. (Trong lúc họ ăn, âm thanh nhai giòn do chính họ tạo ra được phát lại. Âm thanh này được điều chỉnh để đôi khi họ nghe tiếng nhai to hơn, hoặc có lúc âm thanh có tần số cao hơn được chèn vào.)

Fascinatingly, if the sound level was louder or higher frequency they reported that the crisps were actually fresher Q7. Of course, the crisps were in fact the same every time! So, it was clear that the level and quality of what they were hearing was influencing their taste perceptions. (Thật thú vị, khi âm thanh lớn hơn hoặc cao hơn, họ cho rằng khoai tây chiên thực sự tươi hơn. Dĩ nhiên, khoai vẫn là cùng một loại mỗi lần! Vì vậy, rõ ràng mức độ và chất lượng của âm thanh mà họ nghe đã ảnh hưởng đến cảm nhận vị giác.)

So, we've looked briefly at colour, at complementary flavours, at temperature and sound. It seems that all the senses are working together here, but what about the sense of touch? A number of experiments have been done in this area. (Như vậy, chúng ta đã đề cập đến màu sắc, hương vị kết hợp, nhiệt độ và âm thanh. Có vẻ như các giác quan đều phối hợp với nhau nhưng còn xúc giác thì sao? Một số thí nghiệm đã được thực hiện trong lĩnh vực này.)

If you take, for instance, cheese sauce and prepare different versions, some thicker and some thinner, but without any alteration in the strength of flavour, what do you think the subjects perceive? Yup, if the sauce is thicker, they'll say the cheesy flavour is less strong. (Ví dụ, nếu bạn làm nước sốt phô mai với nhiều phiên bản khác nhau, một số đặc hơn, một số loãng hơn, nhưng không thay đổi độ đậm của hương vị, bạn nghĩ người tham gia sẽ cảm nhận như thế nào? Đúng vậy, nếu nước sốt đặc hơn, họ sẽ nói vị phô mai nhạt hơn.)

It was clear that the thing that was influencing the subjects' judgement about the flavour of the sauces was the texture Q8 of each one. Now, this result is important for dietitians as well as marketing executives. (Rõ ràng, yếu tố ảnh hưởng đến đánh giá của người tham gia về hương vị của nước sốt chính là kết cấu, độ đặc/loãng của nó. Kết quả này có ý nghĩa quan trọng không chỉ đối với chuyên gia dinh dưỡng mà còn với các chuyên viên tiếp thị.)

Lastly, another variation on the two flavours theme. This concerns the capacity of the brain for bridging a sensory gap. The subjects in this experiment stuck out their tongues so that the testers could drip two liquids Q9 onto them simultaneously, one strawberry flavoured and one sugar flavoured. (Cuối cùng, là một biến thể khác về chủ đề hai hương vị. Lần này liên quan đến khả năng của não bộ trong việc “lấp đầy” khoảng trống cảm giác. Những người tham gia trong thí nghiệm này thè lưỡi ra để các nhà nghiên cứu nhỏ đồng thời hai loại chất lỏng lên, một có vị dâu và một có vị ngọt.)

The testers then took away each flavour in turn. When the sweetness was taken away, the subjects reported they could hardly taste anything, but they continued to think they could taste strawberry Q10 even after it was taken away! So that taste gap was filled. (Sau đó, từng hương vị được loại bỏ lần lượt. Khi vị ngọt bị loại bỏ, người tham gia nói rằng họ gần như không còn cảm nhận được gì, nhưng họ vẫn nghĩ rằng mình còn đang nếm vị dâu ngay cả khi vị dâu đã bị lấy đi! Như vậy, khoảng trống vị giác đã được lấp đầy bởi não bộ.)

Well, that's just a quick look at some of the examples in the current literature. The references will be in the handout you'll get at the end of the session. Now let's see about trying a few of them for ourselves. (Vừa rồi là một cái nhìn nhanh về một vài ví dụ trong các tài liệu hiện tại. Tài liệu tham khảo sẽ có trong tờ phát mà bạn nhận vào cuối buổi học. Bây giờ hãy cùng thử một vài thí nghiệm trong số đó nhé.)

>> Xem thêm: Giải đề IELTS Listening Cam 12 Test 1: Family Excursions

3. Đáp án Investigating Taste

Question Answer
1 cans
2 lime
3 tasteless
4 returns
5 warm
6 soundproof/soundproofed
7 fresher
8 texture
9 liquids
10 strawberry
Đáp án Investigating Taste IELTS Listening

Giải thích chi tiết

Question 1: cans

Thông tin trong bài: “The green colour of some cans was altered by the addition of yellow, so they were a brighter green.”

Giải thích: Câu hỏi đề cập đến “more yellow added to green colour of ___”. Từ khóa trong bài là “the green colour of some cans was altered”, cho thấy rõ vật thể được thay đổi màu sắc là cans (lon nước). Đây là thông tin then chốt để nhận biết đối tượng chịu tác động. Việc bổ sung màu vàng vào màu xanh lá nhằm làm lon sáng hơn là một thủ thuật trình bày, dẫn đến phản ứng khác nhau từ người tiêu dùng, và đối tượng này chính là cans.

Question 2: lime

Thông tin trong bài: “they stated that there was more lime in the drink if it was in the ones with the new colour.”

Giải thích: Câu hỏi yêu cầu điền vào chỗ trống: “subjects believed extra ___ added to drink”. Người nói nêu rõ rằng khi màu sắc lon thay đổi, người tham gia cho rằng trong thức uống có nhiều chanh (lime) hơn. Do đó, từ khóa chính là lime – thành phần được tin là “extra” trong thức uống.

Question 3: tasteless

Thông tin trong bài: “chew up to the point where it becomes tasteless, and then… eat a little sugar and continue chewing…”

Giải thích: Câu hỏi mô tả một quá trình: “gum chewed until it is ___”. Người nói đề cập rằng vị bạc hà biến mất sau vài phút nhai, và yêu cầu người tham gia tiếp tục nhai cho đến khi kẹo “không còn vị” – từ khóa là tasteless. Đây là mốc quan trọng trong thí nghiệm vì sau khi đạt trạng thái tasteless, việc bổ sung đường làm cho vị bạc hà quay lại, từ đó chứng minh mối liên hệ giữa vị ngọt và khả năng nhận biết bạc hà.

Question 4: returns

Thông tin trong bài: “what happens is that the original mintiness actually returns…”

Giải thích: Câu hỏi yêu cầu hoàn thành kết quả: “mint flavour ___”. Theo logic trình tự thí nghiệm, sau khi nhai đến khi kẹo tasteless, rồi thêm đường, người tham gia nhận lại vị bạc hà. Động từ then chốt là returns (quay trở lại). Đây là kết luận mang tính bất ngờ của thí nghiệm, vị bạc hà không thực sự mất, mà cần vị ngọt để được cảm nhận trở lại.

Question 5: warm

Thông tin trong bài: “The warm drink is too sweet to be refreshing.”

Giải thích: Câu hỏi: “___ drink seems sweeter”. Người nói đề cập rằng cùng một loại đồ uống, khi để ấm (warm), sẽ có vị ngọt gắt hơn, trong khi lạnh thì ngon miệng hơn. Do đó, từ đúng để điền là warm.

Question 6: soundproof / soundproofed

Thông tin trong bài: “Subjects were put into soundproof rooms…”

Giải thích: Câu hỏi: “crisps eaten in rooms which were ___”. Từ khóa rõ ràng nằm trong cụm “soundproof rooms”, là nơi người tham gia được đặt vào để tách biệt các yếu tố bên ngoài, cho phép điều chỉnh âm thanh nhai. Điều này giúp kiểm soát và đánh giá tác động của âm thanh đến cảm nhận vị giác, nên đáp án chính xác là soundproof hoặc soundproofed (đều đúng về ngữ pháp).

Question 7: fresher

Thông tin trong bài: “they reported that the crisps were actually fresher.”

Giải thích: Câu hỏi yêu cầu điền vào: “with louder crunch, subjects believed crisps taste ___”. Kết quả thí nghiệm cho thấy rằng khi âm thanh được điều chỉnh lớn hơn hoặc có tần số cao hơn, người tham gia cho rằng khoai tây chiên “fresher” (tươi hơn), dù thực chất không đổi. Điều này minh họa rõ ràng tác động của âm thanh đến cảm giác về độ tươi ngon.

Question 8: texture

Thông tin trong bài: “It was clear… the thing that was influencing… was the texture of each one.”

Giải thích: Câu hỏi: “___ affects taste perceptions”. Trong thí nghiệm với sốt phô mai, dù không thay đổi về hương vị, khi kết cấu (đặc hay loãng) thay đổi, người tham gia đánh giá vị phô mai khác nhau. Từ khóa texture là nguyên nhân ảnh hưởng đến cảm nhận vị giác. 

Question 9: liquids

Thông tin trong bài: “drip two liquids onto them simultaneously…”

Giải thích: Câu hỏi: “two different flavoured ___ tasted together”. Người nói miêu tả quy trình trong đó hai chất lỏng có hương vị khác nhau (vị dâu và vị ngọt) được nhỏ cùng lúc lên lưỡi. Từ then chốt là liquids, dạng vật chất được dùng trong thí nghiệm. Sự kết hợp đồng thời này là điều kiện để tạo ra hiệu ứng “taste gap”.

Question 10: strawberry

Thông tin trong bài: “they continued to think they could taste strawberry even after it was taken away!”

Giải thích: Câu hỏi: “subjects still tasted ___ when no longer there”. Khi vị ngọt bị loại bỏ, người tham gia không còn cảm nhận được nhiều, nhưng khi vị dâu bị bỏ đi, họ vẫn cảm thấy như đang nếm vị đó. Đây là hiện tượng não bộ tự "lấp đầy" khoảng trống vị giác tạo cảm giác vị dâu (strawberry) vẫn còn. Vì vậy, đáp án là strawberry, được duy trì trong cảm giác dù thực tế đã không còn hiện diện.

>> Xem thêm: Giải đề IELTS Listening Cam 15 Test 2: Transcript & Answer

4. Khoá học IELTS Online tại Langmaster

Nếu bạn muốn cải thiện và nâng cao band điểm IELTS toàn diện ở cả 4 kỹ năng: Nghe – Nói – Đọc – Viết, thì Langmaster chính là lựa chọn phù hợp dành cho bạn. Với hơn 15 năm kinh nghiệm đào tạo và đồng hành cùng hàng ngàn học viên, Langmaster là một trong những trung tâm luyện thi IELTS online uy tín và chất lượng hàng đầu hiện nay.

Test IELTS Online

Khóa học IELTS Online tại Langmaster được thiết kế dành riêng cho người học Việt Nam, phù hợp với mọi trình độ, từ mất gốc đến band 6.5+, giúp bạn học dễ hiểu, dễ áp dụng, tiến bộ nhanh chóng. Khi tham gia khoá học IELTS Online tại Langmaster, học viên sẽ được:

  • Học trong lớp sĩ số nhỏ 7–10 học viên: Giúp tăng tương tác, giáo viên theo sát từng bạn, phát hiện và sửa lỗi kịp thời.

  • Cá nhân hóa lộ trình học theo mục tiêu band: Dựa trên bài test đầu vào, Langmaster sẽ thiết kế kế hoạch phù hợp nhất, giúp học đúng trọng tâm và rút ngắn thời gian đạt mục tiêu.

  • Giảng viên IELTS 7.5+ chấm chữa chi tiết trong 24h: Giúp học viên nhanh chóng nhận ra lỗi sai, cải thiện rõ rệt từng kỹ năng chỉ sau vài buổi.

  • Thi thử chuẩn format thi thật thường xuyên: Giúp làm quen với áp lực phòng thi, đánh giá chính xác điểm mạnh – điểm yếu để tối ưu chiến lược ôn tập.

  • Coaching 1–1 cùng chuyên gia: Tập trung xử lý từng điểm yếu cá nhân và nâng cấp kỹ thuật làm bài để bứt phá điểm số nhanh.

  • Học online nhưng chất lượng tương đương offline: Học viên vẫn được tương tác trực tiếp, luyện tập nói liên tục và có hệ sinh thái học tập hỗ trợ đầy đủ.

Đăng ký lớp học thử ngay hôm nay để trực tiếp trải nghiệm phương pháp đào tạo chuyên sâu tại Langmaster!

Học tiếng Anh Langmaster

Học tiếng Anh Langmaster

Langmaster là hệ sinh thái đào tạo tiếng Anh toàn diện với 16+ năm uy tín, bao gồm các chương trình: Tiếng Anh giao tiếp, Luyện thi IELTS và tiếng Anh trẻ em. 800.000+ học viên trên toàn cầu, 95% học viên đạt mục tiêu đầu ra.

Nội Dung Hot

KHOÁ HỌC TRỰC TUYẾN 1 KÈM 1

KHÓA TIẾNG ANH GIAO TIẾP 1 KÈM 1

  • Học và trao đổi trực tiếp 1 thầy 1 trò.
  • Giao tiếp liên tục, sửa lỗi kịp thời, bù đắp lỗ hổng ngay lập tức.
  • Lộ trình học được thiết kế riêng cho từng học viên.
  • Dựa trên mục tiêu, đặc thù từng ngành việc của học viên.
  • Học mọi lúc mọi nơi, thời gian linh hoạt.

Chi tiết

khóa ielts online

KHÓA HỌC IELTS ONLINE

  • Sĩ số lớp nhỏ (7-10 học viên), đảm bảo học viên được quan tâm đồng đều, sát sao.
  • Giáo viên 7.5+ IELTS, chấm chữa bài trong vòng 24h.
  • Lộ trình cá nhân hóa, coaching 1-1 cùng chuyên gia.
  • Thi thử chuẩn thi thật, phân tích điểm mạnh - yếu rõ ràng.
  • Cam kết đầu ra, học lại miễn phí.

Chi tiết

null

KHÓA TIẾNG ANH TRẺ EM

  • Giáo trình Cambridge kết hợp với Sách giáo khoa của Bộ GD&ĐT hiện hành
  • 100% giáo viên đạt chứng chỉ quốc tế IELTS 7.0+/TOEIC 900+
  • X3 hiệu quả với các Phương pháp giảng dạy hiện đại
  • Lộ trình học cá nhân hóa, con được quan tâm sát sao và phát triển toàn diện 4 kỹ năng

Chi tiết


Bài viết khác