HỌC THỬ IELTS ONLINE MIỄN PHÍ

DUY NHẤT 10 SLOTS TRONG HÔM NAY

10 SLOTS HỌC THỬ IELTS MIỄN PHÍ CUỐI CÙNG

ĐĂNG KÝ NGAY

Giải đề thi thật IELTS Reading ngày 10.03.2026 [FULL ANSWERS]

IELTS Reading ngày 10/03/2026 tiếp tục là thử thách với nhiều thí sinh khi yêu cầu khả năng đọc nhanh, xử lý thông tin chính xác và làm quen với nhiều dạng câu hỏi khác nhau. Để giúp bạn nắm rõ cách tiếp cận đề và tránh những lỗi sai thường gặp, việc tham khảo bài giải chi tiết là vô cùng cần thiết. Trong bài viết dưới đây, Langmaster sẽ cung cấp đáp án kèm giải thích chi tiết từng câu hỏi, giúp bạn hiểu rõ cách làm và cải thiện kỹ năng Reading hiệu quả

Bạn đang ở band IELTS bao nhiêu? Làm bài test miễn phí và nhận ngay lộ trình học cá nhân hóa.
👉 Đăng ký test IELTS miễn phí ngay

Sleep Study on Modern-Day Hunter-Gatherer Dispels Popular Notions

Modern life’s sleep troubles – the chronic bleary-eyed state that many of us live in -have long been blamed on our industrial society. The city lights, long work hours, commutes, caffeine, the Internet. When talking about the miserable state of our ability to get enough rest, sleep researchers have had a tendency to hark back to a simpler time when humans were able to fully recharge by sleeping and waking to the rhythms of the sun. It turns out that may not be quite right. In fact, it now appears that our ancestors may not have been getting the doctor-recommended eight hours of sleep, either.

In an intriguing study published in Current Biology this week, researchers traveled to remote corners of the planet to scrutinize the sleep patterns of some of the world’s last remaining hunter-gatherers – the Hadza of Tanzania, the San of Namibia, and the Tsimane of Bolivia. Cut off from electricity, media and other distractions, these pre-industrial societies are thought to experience the same sort of natural sleep ancient humans enjoyed more than 10,000 years ago.

Located in a woodland-savannah habitat 2 degrees south of the equator, the Hadza gather their wild foods each day. The San are not migratory but interact very little with surrounding villages and live as hunter-gatherers. The Tsimane, who live close to the Maniqui River and thereby have to live with humid climate, are hunter-horticulturalist. Using Actiwatch-2 devices, a medical-grade Fitbit hand-watch for sleep, researchers recorded the sleeping habits of 94 of these tribespeople and ended up collecting data representing 1,165 days.

What they found was a striking uniformity in their sleep patterns despite their geographic isolation. On average, all three groups sleep a little less than 6.5 hours a night, do not take naps and do not go to sleep when it gets dark. Like many of us, the Hadza, San and Tsimane spent more time in bed – from 6.9 to 8.5 hours – than they do actually sleeping. That computes to a sleep efficiency of between 81 to 86 percent – which is very similar to today’s industrial populations. Jerome Siegel, director of the University of California at Los Angeles’s Center for Sleep Research, and his colleagues explained that this suggests that sleep may not be environmental or cultural, but “central to the physiology of humans” living in the tropical latitudes where our species evolved.

“The short sleep in these populations challenges the belief that sleep has been greatly reduced in the ‘modern world’,” Siegel said. “This has important implications for the idea that we need to take sleeping pills because sleep has been reduced from its ‘natural level’ by the widespread use of electricity, TV, the Internet, and so on.”

The findings call into question the untold millions that have been spent on research that tries to get to the bottom of why “short” sleepers get only about six hours of sleep a night and the idea that lack of sleep may be a big reason that obesity, mood disorders and other physical and mental ailments have surged in recent decades.

Scientists have long documented that people have a tendency to “crash” in energy in the midafternoon, and some have speculated that it is because we have managed to suppress some innate need for a siesta. The new study provides evidence this is unlikely. The data from the San in Namibia, for instance, shows no afternoon naps during 210 days of recording in the winter and 10 naps in 364 days in the summer. The findings were similar for the other two tribes, suggesting that napping is not really a common thing among hunter-gatherers, either. At the high end, the researchers estimated that naps may have occurred on up to 7 percent of winter days and 22 percent of summer days. The researchers noted that the devices they were using were not great at picking up naps of short durations, so it is possible that some of the study subjects were taking short power naps of less than 15 minutes.

Another fascinating finding from the study had to do with the circadian rhythms related to sunlight. Instead of going to sleep right at dusk, the hunter-gatherers were sleeping an average of 2.5 and 4.4 hours after sunset – well after darkness had fallen. All three tribes had small fires going, but the light itself was much lower than you might get from your average 60-watt bulb. They did, however, have a tendency to wake up around sunrise an hour before or after, depending on the season and the group. Siegel and his co-authors investigated this further by looking into the significance of ambient temperature and found that it may play a big role. The research showed that “sleep initiation occurred during the period of decreasing ambient temperature and that wake onset occurred near the nadir of the daily temperature rhythm”, they wrote.

It should be noted that the tribespeople studied are different from your average American in a number of respects. Importantly, very few of the hunter-gatherers suffer from chronic insomnia. There is not even a word for it in their languages. In interviews with the researchers conducted through interpreters, 1.5 to 2.5 percent of the study subjects said they had sleep onset or sleep maintenance problems more than once a year, which is far lower than the 10 to 30 percent documented in many countries today. Siegel suggested that this may mean that “mimicking aspects of the natural environment” may be effective in treating some sleep disorders.

The hunter-gatherers are also much healthier. Not a single one is obese, and the mean BMIs among the tribes were between 18.3 and 26.2, which is considered quite slim. They also tend to have lower blood pressure, better heart conditions and higher levels of physical fitness. Thus comes a critical question. If we cannot blame the lack of sleep as causing our obesity, mood disorders and the like, could it be that the reason we feel so unrested is because of poor health?

Questions 1 – 6

Do the following statements agree with the information given in Reading Passage 1?

In boxes 1-6 on your answer sheet, write

TRUE if the statement agrees with the information
FALSE if the statement contradicts the information
NOT GIVEN if there is no information on this

1. Those who lived before industrial era are considered to have similarities in sleep patterns with human beings of 10,000 years ago.

2. Apparatus researchers used was suitable for wet conditions.

3. The Hazda spent more time on bed than us.

4. Jerome Siegel opined that environment and culture have little effect on human’s sleep.

5. Hunter-gatherers use a word meaning “sleeplessness”.

6. Tribal subjects in the survey are highly respectful.

Questions 7 – 13

Answer the questions below.

Choose NO MORE THAN ONE WORD from the passage for each answer.

Write your answers in boxes 7-13 on your answer sheet.

7. Taking a nap might not be a common occurrence on cold days, but in ___________ time.

8. Devices may be incapable of covering ___________ naps.

9. Despite the presence of ___________, it was not so bright at night.

10. Ancient human beings tended to be awake near to ___________.

11. This early habit was mainly connected with ___________ according to conclusions made by investigators.

12. Unlike Americans, these people were almost not prone to ___________.

13. Any hunter-gatherers are not ___________.

>> Xem thêm: Giải đề IELTS Reading ngày 14.03.2026 chi tiết nhất

Nghiên cứu về giấc ngủ ở các cộng đồng săn bắt – hái lượm hiện đại bác bỏ những quan niệm phổ biến

Những rắc rối về giấc ngủ trong cuộc sống hiện đại – trạng thái mệt mỏi kéo dài mà nhiều người phải chịu đựng – từ lâu thường bị đổ lỗi cho xã hội công nghiệp. Ánh đèn đô thị, giờ làm việc kéo dài, việc di chuyển, caffeine, Internet… Khi bàn về tình trạng thiếu ngủ phổ biến, các nhà nghiên cứu thường có xu hướng nhìn lại quá khứ, khi con người được cho là ngủ và thức theo nhịp điệu tự nhiên của mặt trời, từ đó có thể nghỉ ngơi đầy đủ. Tuy nhiên, thực tế có thể không hoàn toàn như vậy. Trên thực tế, tổ tiên của con người dường như cũng không ngủ đủ tám giờ như khuyến nghị của y học hiện đại.

Trong một nghiên cứu đáng chú ý được công bố trên tạp chí Current Biology, các nhà khoa học đã đến những vùng xa xôi trên thế giới để khảo sát thói quen ngủ của một số cộng đồng săn bắt – hái lượm cuối cùng còn tồn tại: người Hadza ở Tanzania, người San ở Namibia và người Tsimane ở Bolivia. Tách biệt khỏi điện, truyền thông và các yếu tố gây xao nhãng, những xã hội tiền công nghiệp này được cho là có kiểu ngủ tự nhiên tương tự con người cổ đại hơn 10.000 năm trước.

Người Hadza sống trong môi trường rừng – thảo nguyên cách xích đạo 2 độ về phía nam và thu thập thực phẩm hoang dã mỗi ngày. Người San không di cư, ít tiếp xúc với các làng xung quanh và duy trì lối sống săn bắt – hái lượm. Người Tsimane sống gần sông Maniqui, phải thích nghi với khí hậu ẩm ướt và kết hợp săn bắt với làm vườn. Các nhà nghiên cứu sử dụng thiết bị Actiwatch-2 – một loại đồng hồ đeo tay theo dõi giấc ngủ tương tự Fitbit – để ghi lại thói quen ngủ của 94 người thuộc các bộ lạc này, thu thập dữ liệu trong tổng cộng 1.165 ngày.

Kết quả cho thấy sự tương đồng đáng chú ý trong mô hình giấc ngủ giữa các nhóm, mặc dù họ sống cách biệt về địa lý. Trung bình, cả ba nhóm ngủ chưa đến 6,5 giờ mỗi đêm, không ngủ trưa và không đi ngủ ngay khi trời tối. Giống như con người hiện đại, họ dành nhiều thời gian trên giường (từ 6,9 đến 8,5 giờ) hơn là thời gian thực sự ngủ. Điều này tương ứng với hiệu suất giấc ngủ từ 81% đến 86% – gần như tương đương với các cộng đồng công nghiệp ngày nay. Jerome Siegel, giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Giấc ngủ tại Đại học California, Los Angeles, cùng các cộng sự cho rằng điều này cho thấy giấc ngủ có thể không phụ thuộc vào môi trường hay văn hóa, mà là một yếu tố cốt lõi trong sinh lý con người, đặc biệt ở các vùng nhiệt đới – nơi loài người tiến hóa.

Siegel nhận định: “Thời lượng ngủ ngắn ở các cộng đồng này thách thức quan điểm cho rằng giấc ngủ đã bị rút ngắn đáng kể trong thế giới hiện đại.” Điều này có ý nghĩa quan trọng đối với giả thuyết rằng con người cần dùng thuốc ngủ vì giấc ngủ đã bị suy giảm khỏi mức “tự nhiên” do điện, truyền hình, Internet và các yếu tố khác.

Những phát hiện này cũng đặt ra nghi vấn đối với các nghiên cứu tốn kém nhằm tìm hiểu vì sao có những người chỉ ngủ khoảng sáu giờ mỗi đêm, cũng như giả thuyết cho rằng thiếu ngủ là nguyên nhân chính dẫn đến béo phì, rối loạn tâm trạng và nhiều vấn đề sức khỏe thể chất lẫn tinh thần trong những thập kỷ gần đây.

Các nhà khoa học từ lâu đã ghi nhận rằng con người thường cảm thấy “tụt năng lượng” vào buổi chiều, và một số giả thuyết cho rằng điều này là do nhu cầu ngủ trưa tự nhiên bị kìm nén. Tuy nhiên, nghiên cứu mới cho thấy điều này có thể không chính xác. Dữ liệu từ người San ở Namibia cho thấy không có giấc ngủ trưa nào trong 210 ngày ghi nhận vào mùa đông và chỉ có 10 lần trong 364 ngày vào mùa hè. Kết quả tương tự cũng được ghi nhận ở hai nhóm còn lại, cho thấy ngủ trưa không phải là thói quen phổ biến trong các cộng đồng săn bắt – hái lượm. Ở mức cao nhất, các nhà nghiên cứu ước tính giấc ngủ trưa chỉ xảy ra trong khoảng 7% số ngày mùa đông và 22% số ngày mùa hè. Tuy nhiên, thiết bị sử dụng không ghi nhận tốt các giấc ngủ ngắn dưới 15 phút, nên có thể một số người vẫn có những giấc ngủ ngắn không được ghi nhận.

Một phát hiện đáng chú ý khác liên quan đến nhịp sinh học theo ánh sáng. Thay vì đi ngủ ngay khi trời tối, các cộng đồng này thường ngủ muộn hơn, trung bình từ 2,5 đến 4,4 giờ sau khi mặt trời lặn. Mặc dù cả ba nhóm đều duy trì các đống lửa nhỏ, ánh sáng từ đó vẫn yếu hơn nhiều so với bóng đèn 60 watt thông thường. Tuy nhiên, họ có xu hướng thức dậy vào khoảng thời gian mặt trời mọc, lệch khoảng một giờ tùy theo mùa và từng nhóm. Khi nghiên cứu sâu hơn, Siegel và các cộng sự nhận thấy nhiệt độ môi trường có thể đóng vai trò quan trọng: việc bắt đầu giấc ngủ xảy ra khi nhiệt độ giảm dần, và thời điểm thức dậy trùng với mức nhiệt thấp nhất trong ngày.

Cần lưu ý rằng các cộng đồng này khác biệt đáng kể so với người hiện đại ở nhiều khía cạnh. Đáng chú ý, rất ít người trong số họ bị mất ngủ mãn tính, thậm chí ngôn ngữ của họ không có từ để chỉ tình trạng này. Theo các cuộc phỏng vấn thông qua phiên dịch, chỉ khoảng 1,5% đến 2,5% người tham gia nghiên cứu gặp vấn đề về giấc ngủ hơn một lần mỗi năm – thấp hơn rất nhiều so với tỷ lệ 10% đến 30% ở nhiều quốc gia hiện nay. Siegel cho rằng việc “mô phỏng các yếu tố của môi trường tự nhiên” có thể là hướng tiếp cận hiệu quả trong điều trị một số rối loạn giấc ngủ.

Ngoài ra, các cộng đồng săn bắt – hái lượm này còn có sức khỏe tổng thể tốt hơn. Không có cá nhân nào bị béo phì, chỉ số BMI trung bình dao động từ 18,3 đến 26,2 – mức được coi là khá gầy. Họ cũng có huyết áp thấp hơn, tim mạch khỏe hơn và thể lực tốt hơn. Điều này dẫn đến một câu hỏi quan trọng: nếu không thể đổ lỗi cho việc thiếu ngủ là nguyên nhân gây béo phì hay rối loạn tâm trạng, liệu cảm giác mệt mỏi kéo dài có phải xuất phát từ tình trạng sức khỏe kém hay không?

>> Xem thêm: Cách học IELTS Reading hiệu quả tại nhà từ con số 0

Dưới đây là đáp án cho IELTS Reading ngày 10.03.2026: Sleep Study on Modern-Day Hunter-Gatherer Dispels Popular Notions:

Đáp án IELTS Reading Sleep Study on Modern-Day Hunter-Gatherer Dispels Popular Notions ngày 10.03.2026

Câu

Đáp án

1

TRUE

2

NOT GIVEN

3

FALSE

4

TRUE

5

FALSE

6

NOT GIVEN

7

summer

8

short

9

fires

10

sunrise

11

temperature

12

insomnia

13

obese

Giải thích chi tiết

Question 1: TRUE (Đoạn 2)

Thông tin trong bài: “these pre-industrial societies are thought to experience the same sort of natural sleep ancient humans enjoyed more than 10,000 years ago.”

Giải thích: Câu hỏi đề cập đến sự tương đồng giữa các xã hội tiền công nghiệp và con người cách đây 10.000 năm. Văn bản xác nhận trực tiếp rằng các xã hội này được cho là có kiểu ngủ giống với con người cổ đại. Nội dung hoàn toàn trùng khớp nên đáp án là TRUE.

Question 2: NOT GIVEN (Đoạn 3)

Thông tin trong bài: “Using Actiwatch-2 devices… the Tsimane… have to live with humid climate…”

Giải thích: Văn bản có đề cập đến thiết bị Actiwatch-2 và điều kiện khí hậu ẩm ướt của bộ lạc Tsimane, nhưng không có bất kỳ thông tin nào khẳng định thiết bị này có phù hợp với môi trường ẩm hay không. Thiếu dữ kiện để xác nhận hoặc phủ định, nên đáp án là NOT GIVEN.

Question 3: FALSE (Đoạn 4)

Thông tin trong bài: “…spent more time in bed – from 6.9 to 8.5 hours… which is very similar to today’s industrial populations.”

Giải thích: Câu hỏi cho rằng người Hadza dành nhiều thời gian trên giường hơn con người hiện đại. Tuy nhiên, văn bản khẳng định thời gian này “rất giống” với các xã hội công nghiệp ngày nay. Điều này mâu thuẫn với nội dung câu hỏi, do đó đáp án là FALSE.

Question 4: TRUE (Đoạn 4)

Thông tin trong bài: “…sleep may not be environmental or cultural, but ‘central to the physiology of humans’…”

Giải thích: Jerome Siegel cho rằng giấc ngủ không phụ thuộc vào yếu tố môi trường hay văn hóa, mà mang tính sinh lý học cốt lõi. Điều này tương ứng với nhận định trong câu hỏi rằng môi trường và văn hóa có ít ảnh hưởng đến giấc ngủ. Do đó, đáp án là TRUE.

Question 5: FALSE (Đoạn 9)

Thông tin trong bài: “There is not even a word for it in their languages.”

Giải thích: Câu hỏi cho rằng các cộng đồng này có từ chỉ “mất ngủ”. Tuy nhiên, văn bản nêu rõ ngôn ngữ của họ thậm chí không có từ để diễn đạt khái niệm này. Điều này hoàn toàn trái ngược, nên đáp án là FALSE.

Question 6: NOT GIVEN

Thông tin trong bài: Không có thông tin liên quan.

Giải thích: Câu hỏi đề cập đến đặc điểm “tôn trọng” (respectful), thuộc về phẩm chất xã hội. Văn bản không đề cập đến đặc điểm tính cách hay hành vi xã hội này. Do không có dữ liệu, đáp án là NOT GIVEN.

Question 7: summer (Đoạn 7)

Thông tin trong bài: “…10 naps in 364 days in the summer.”

Giải thích: Câu hỏi đối lập giữa ngày lạnh (winter) và thời điểm có ngủ trưa. Văn bản chỉ ra rằng không có ngủ trưa vào mùa đông nhưng có vào mùa hè. Vì vậy, “summer” là đáp án chính xác.

Question 8: short (Đoạn 7)

Thông tin trong bài: “…not great at picking up naps of short durations…”

Giải thích: Thiết bị không ghi nhận tốt các giấc ngủ có thời lượng ngắn. Cụm “short durations” được chuyển thành “short naps” trong câu hỏi. Đây là sự tương đương trực tiếp về mặt từ vựng.

Question 9: fires (Đoạn 8)

Thông tin trong bài: “All three tribes had small fires going, but the light itself was much lower…”

Giải thích: Câu hỏi đề cập đến sự tồn tại của một nguồn sáng nhưng không đủ mạnh. Văn bản nêu rõ có các đống lửa (“fires”) nhưng ánh sáng yếu. Do đó, “fires” là từ phù hợp.

Question 10: sunrise (Đoạn 8)

Thông tin trong bài: “…have a tendency to wake up around sunrise…”

Giải thích: Câu hỏi hỏi về thời điểm thức dậy của con người cổ đại. Văn bản xác nhận họ thức dậy gần thời điểm mặt trời mọc. Vì vậy, “sunrise” là đáp án chính xác.

Question 11: temperature (Đoạn 8)

Thông tin trong bài: “…ambient temperature… may play a big role.”

Giải thích: Nghiên cứu kết luận rằng nhiệt độ môi trường có ảnh hưởng lớn đến việc bắt đầu và kết thúc giấc ngủ. Do đó, “temperature” là yếu tố được yêu cầu trong câu hỏi.

Question 12: insomnia (Đoạn 9)

Thông tin trong bài: “…very few of the hunter-gatherers suffer from chronic insomnia.”

Giải thích: Câu hỏi yêu cầu xác định vấn đề mà các cộng đồng này hiếm khi gặp phải. Văn bản chỉ rõ đó là “insomnia” (mất ngủ mãn tính). Vì vậy, đáp án là “insomnia”.

Question 13: obese (Đoạn 10)

Thông tin trong bài: “Not a single one is obese…”

Giải thích: Văn bản khẳng định không có cá nhân nào bị béo phì trong các cộng đồng này. Điều này tương ứng trực tiếp với câu hỏi, nên đáp án là “obese”.

>> Xem thêm: Top 10+ sách luyện IELTS Reading hiệu quả theo từng trình độ

2. Passage 2: Nanotechnology: Its Development and Uses

2.1. Đề thi Nanotechnology: Its Development and Uses

Nanotechnology: Its Development and Uses

A. Nanotechnology has been hailed by many as being a twentieth century miracle of science. Essentially, nanotechnology, a term derived from Greek, translating literally as ‘dwarf technology’ is, as the origin of its name suggests, engineering at the atomic level. Scientists work with particles of substances known as ‘nanoparticles’ which may measure no more than 1 nanometre or a billionth of a metre. That’s around 40,000 times smaller than the width of the average human hair. Whilst some of these substances derived from carbon compounds are manufactured, others, such as metals, are naturally-occurring or arise as a by-product of another process e.g. volcanic ash or smoke from wood burning. What makes these substances of such scientific interest is that their minute size facilitates medical and technological processes that would otherwise be impossible.

B. It may be something of a revelation for many of us to learn that nanotechnology – or its concept – is far from cutting-edge science. In fact, nanotechnology as an idea was first referred to in an influential lecture by American physicist, Richard Feynman, as far back as 1959. During the lecture, entitled ‘There’s Plenty of Room at the Bottom’, Feynman outlined the basic concept of nanotechnology. Individual atoms and molecules, he claimed, could in the future be created by a physical process. Such a process, he envisaged, would involve the building of a set of precise tools to build and operate another proportionally smaller set. The building of increasingly minute tools at the microscopic level would in turn produce ultra-microscopic materials, later to become known as ‘nanoparticles’.

C. Strangely, what should have sparked a scientific revolution was then virtually forgotten about for the next 15 years. In 1974, a Japanese scientist, Norio Taniguchi, of the Tokyo University of Science reintroduced Feynman’s theory and put a new name to an old concept, referring to the science as ‘nanotechnology’. However, it wasn’t until nearly a decade later, in the 1980s, that the way was paved for nanotechnology to leave the realm of theoretical science and become reality. Two major scientific developments within a relatively short period were to enable practical application of nanotechnology. The invention of the Scanning Tunnelling Microscope (STM), combined with the discovery of nano-sized particles termed ‘fullerenes’, were to prove a turning point in nanotechnology.

D. Fullerenes are derived from carbon molecules and, in common with other nanoparticles, possess chemical and physical properties that are of huge scientific interest. The potential value of fullerenes for medical science was first raised in 2003 and in 2005 when the scientific magazine ‘Chemistry and Biology’ ran an article describing the use of fullerenes as light-activated antimicrobial agents. Since then, fullerenes have been used for several biomedical applications ranging from X-ray imaging to treating cancer by targeting cancer cells. In addition, these nanoparticles have been used in the manufacture of commercial products, from sunscreen to cosmetics and some food products. Furthermore, nanoparticles of metals, like gold and silver, have been used in environmental clean-ups of oil slicks and other forms of pollution. The remarkable properties of nanoparticles are down to two main factors: their greater surface-to-weight ratio, compared to larger particles which promotes the attachment of substances to their surface, and their minute size which allows them to penetrate cell membranes. These properties are of great benefit, for example in medicine, as drugs to fight cancer or AIDS can be attached to nanoparticles to reach their target cell in the human body.

E. However, despite the amazing properties attributed to nanoparticles such as fullerenes, nanotechnology has yet to win wider universal acceptance in scientific circles. For the very properties that make nanoparticles so valuable to technology and medical science are also the ones that make them potentially so toxic. Such properties are potentially lethal if toxic substances attach themselves to the same nanoparticles, thereby delivering a fatal toxin through the cell membranes into the cells themselves. The toxic effect of these compounds is further increased, since their size permits them to enter the bloodstream and hence the body’s major organs. Furthermore, the nanoparticles in themselves are essentially a foreign element being introduced to the body. Unlike foreign elements, such as bacteria, the body has no natural immune system to deal with these ultramicroscopic particles. Scientists have yet to convince the nanotechnology sceptics that the potential side effects of nanoparticles are more than compensated for by the advantages that they confer. It may be, however, that opposition to this technology is no more than a general distrust of scientific innovation. In fact, Urban Wiesing from the University of Tubingen has been quoted as saying “Many of the risks associated with nanotechnology have at least been of the risks associated with nanotechnology have at least been encountered in part in other technologies as well.” He also believes that regulations can be put in place to minimise such risks. This is a view echoed by the Federal Environment Agency that proposes that such risks are vastly outweighed by the potential benefits of nanotechnology, in particular for the environment.

Questions 14 – 18

The text has five paragraphs, A-E. Which paragraph contains the following information?

Write the correct letter, A-E, in boxes 14-18 on your answer sheet.

14. promising beginnings

15. definition of a revolutionary technology

16. repackaging an old idea

17. dubious attributes

18. the foundation of a new technology

Questions 19 – 23

Choose the correct letter, A, B, C or D. Write your answers in boxes 19-23 on your answer sheet.

19. Nanotechnology

A. has limited value.

B. is not related to science.

C. incites controversy.

D. poses insurmountable safety issues.

20. In the beginning, nanotechnology was

A. overlooked as a science.

B. considered to be irrelevant.

C. highly unpopular.

D. regarded as being revolutionary.

21. Nanoparticles are a product of

A. manufacturing processes alone.

B. natural and manufacturing processes.

C. purely biological processes.

D. environmental factors alone.

22. Nanotechnology remained a purely theoretical science until

A. other technologies caught up with it.

B. scientists were better able to understand its practical applications.

C. Taniguchi convinced other scientists of its practical value.

D. a scientist invented a new technology.

23. Safety concerns about nanotechnology are

A. completely unfounded.

B. exaggerated by its detractors.

C. real but manageable.

D. misunderstood.

Questions 24 – 26

Complete the sentences. Choose NO MORE THAN THREE WORDS from the passage for each answer.

A major 24._________ in the field of nanotechnology came with the discovery of fullerenes and the invention of the Scanning Tunnelling Microscope.

Amongst scientists, nanotechnology has not met with 25.____________

The ability of nanoparticles to penetrate 26.___________ is somewhat of a mixed blessing.

>> Xem thêm: Đề thi IELTS Reading có đáp án mới nhất 2025-2026 [Cập nhật liên tục]

2.2. Bài dịch Nanotechnology: Its Development and Uses

Công nghệ nano: Sự phát triển và các ứng dụng

A. Công nghệ nano đã được nhiều người ca ngợi là một kỳ tích khoa học của thế kỷ XX. Về cơ bản, công nghệ nano, một thuật ngữ có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp, nghĩa đen là “công nghệ của những vật thể nhỏ bé”, đúng như tên gọi của nó, là kỹ thuật ở cấp độ nguyên tử. Các nhà khoa học làm việc với các hạt vật chất được gọi là “hạt nano”, có kích thước không quá 1 nanomet, tức một phần tỷ mét. Con số này nhỏ hơn khoảng 40.000 lần so với chiều rộng của một sợi tóc người trung bình. Trong khi một số chất được tạo ra từ các hợp chất carbon, thì những chất khác, như kim loại, lại có sẵn trong tự nhiên hoặc hình thành như sản phẩm phụ của một quá trình khác, ví dụ như tro núi lửa hoặc khói từ việc đốt gỗ. Điều khiến những vật chất này trở nên có giá trị khoa học đặc biệt chính là kích thước cực nhỏ của chúng, giúp tạo điều kiện cho các quá trình y học và công nghệ mà nếu không sẽ không thể thực hiện được.

B. Có thể nhiều người sẽ ngạc nhiên khi biết rằng công nghệ nano – hay ý tưởng về nó – không phải là một lĩnh vực khoa học mới mẻ. Trên thực tế, khái niệm công nghệ nano lần đầu tiên được đề cập trong một bài giảng có ảnh hưởng của nhà vật lý người Mỹ Richard Feynman vào năm 1959. Trong bài giảng mang tên “There’s Plenty of Room at the Bottom”, Feynman đã phác thảo những ý tưởng cơ bản của công nghệ nano. Ông cho rằng các nguyên tử và phân tử riêng lẻ trong tương lai có thể được tạo ra thông qua một quá trình vật lý. Quá trình này, theo ông hình dung, sẽ bao gồm việc xây dựng một bộ công cụ chính xác để chế tạo và vận hành một bộ công cụ nhỏ hơn theo tỷ lệ tương ứng. Việc chế tạo các công cụ ngày càng nhỏ ở cấp độ vi mô sẽ từ đó tạo ra các vật liệu siêu vi mô, sau này được gọi là “hạt nano”.

C. Một cách kỳ lạ, điều đáng lẽ phải mở ra một cuộc cách mạng khoa học lại gần như bị lãng quên trong khoảng 15 năm tiếp theo. Đến năm 1974, một nhà khoa học người Nhật Bản, Norio Taniguchi, thuộc Đại học Khoa học Tokyo, đã tái giới thiệu lý thuyết của Feynman và đặt tên mới cho một khái niệm cũ, gọi lĩnh vực này là “công nghệ nano”. Tuy nhiên, phải đến gần một thập kỷ sau, vào những năm 1980, con đường để công nghệ nano rời khỏi phạm vi của khoa học lý thuyết và trở thành hiện thực mới được mở ra. Hai bước tiến khoa học lớn trong một khoảng thời gian tương đối ngắn đã tạo điều kiện cho việc ứng dụng thực tế của công nghệ nano. Sự ra đời của kính hiển vi quét đường hầm (STM), kết hợp với việc phát hiện các hạt kích thước nano gọi là “fullerene”, đã trở thành bước ngoặt của công nghệ nano.

D. Fullerene có nguồn gốc từ các phân tử carbon và, giống như các hạt nano khác, sở hữu các tính chất hóa học và vật lý rất đáng quan tâm đối với khoa học. Tiềm năng của fullerene đối với y học lần đầu tiên được đề cập vào năm 2003 và năm 2005 khi tạp chí khoa học “Chemistry and Biology” đăng một bài viết mô tả việc sử dụng fullerene như các tác nhân kháng khuẩn được kích hoạt bằng ánh sáng. Kể từ đó, fullerene đã được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực y sinh, từ chụp X-quang đến điều trị ung thư bằng cách nhắm mục tiêu vào các tế bào ung thư. Ngoài ra, các hạt nano này còn được sử dụng trong sản xuất các sản phẩm thương mại, từ kem chống nắng đến mỹ phẩm và một số sản phẩm thực phẩm. Hơn nữa, các hạt nano kim loại như vàng và bạc đã được sử dụng trong việc xử lý môi trường, chẳng hạn như làm sạch các vết dầu loang và các dạng ô nhiễm khác. Các tính chất đặc biệt của hạt nano đến từ hai yếu tố chính: tỷ lệ diện tích bề mặt trên khối lượng lớn hơn so với các hạt lớn, giúp tăng khả năng liên kết với các chất khác trên bề mặt, và kích thước cực nhỏ cho phép chúng xuyên qua màng tế bào. Những đặc điểm này rất hữu ích, ví dụ trong y học, khi thuốc điều trị ung thư hoặc AIDS có thể được gắn vào hạt nano để tiếp cận đúng tế bào mục tiêu trong cơ thể người.

E. Tuy nhiên, mặc dù các đặc tính đáng kinh ngạc được gán cho các hạt nano như fullerene, công nghệ nano vẫn chưa đạt được sự chấp nhận rộng rãi trong giới khoa học. Chính những đặc tính làm cho hạt nano có giá trị đối với công nghệ và y học cũng là những yếu tố khiến chúng có khả năng gây độc. Những đặc tính này có thể trở nên nguy hiểm nếu các chất độc bám vào cùng các hạt nano, qua đó đưa độc tố vào bên trong tế bào thông qua màng tế bào. Tác động độc hại của các hợp chất này còn gia tăng do kích thước nhỏ cho phép chúng xâm nhập vào máu và đến các cơ quan quan trọng của cơ thể. Hơn nữa, bản thân các hạt nano về cơ bản là yếu tố ngoại lai khi được đưa vào cơ thể. Không giống như các yếu tố ngoại lai như vi khuẩn, cơ thể không có hệ miễn dịch tự nhiên để xử lý các hạt siêu vi này. Các nhà khoa học vẫn chưa thuyết phục được những người hoài nghi rằng các tác dụng phụ tiềm ẩn của công nghệ nano nhỏ hơn so với những lợi ích mà nó mang lại. Tuy nhiên, có thể sự phản đối đối với công nghệ này chỉ đơn giản là sự thiếu tin tưởng chung đối với các đổi mới khoa học. Thực tế, Urban Wiesing từ Đại học Tübingen đã từng phát biểu rằng: “Nhiều rủi ro liên quan đến công nghệ nano ít nhất cũng đã từng xuất hiện một phần trong các công nghệ khác.” Ông cũng cho rằng có thể thiết lập các quy định để giảm thiểu những rủi ro này. Quan điểm này cũng được Cơ quan Môi trường Liên bang đồng tình, khi cho rằng những rủi ro đó bị vượt xa bởi những lợi ích tiềm năng của công nghệ nano, đặc biệt là đối với môi trường.

>> Xem thêm: Lộ trình tự học IELTS Reading từ 0 đến 7.0 hiệu quả tại nhà

2.3. Đáp án Nanotechnology: Its Development and Uses

Dưới đây là đáp án cho IELTS Reading ngày 10.03.2026: Nanotechnology: Its Development and Uses:

Đáp án IELTS Reading Nanotechnology: Its Development and Uses ngày 10.03.2026

Câu

Đáp án

14

B

15

A

16

C

17

E

18

C

19

C

20

A

21

B

22

A

23

C

24

turning point

25

wider universal acceptance

26

cell membranes

Giải thích chi tiết

Question 14. B

Thông tin trong bài: “In fact, nanotechnology as an idea was first referred to in an influential lecture by American physicist, Richard Feynman, as far back as 1959.”

Giải thích: Đoạn B mô tả giai đoạn khởi đầu mang tính gợi mở của công nghệ nano thông qua bài giảng có ảnh hưởng của Richard Feynman, nơi khái niệm cơ bản được phác thảo lần đầu. Việc đề cập đến ý tưởng từ sớm và mang tính định hướng cho thấy đây là “những khởi đầu đầy hứa hẹn”, phù hợp với nội dung của câu hỏi.

Question 15. A

Thông tin trong bài: “Essentially, nanotechnology… translating literally as ‘dwarf technology’ is… engineering at the atomic level.”

Giải thích: Đoạn A cung cấp định nghĩa trực tiếp về công nghệ nano, giải thích bản chất là kỹ thuật ở cấp độ nguyên tử và nguồn gốc thuật ngữ. Nội dung này tương ứng với việc định nghĩa một công nghệ mang tính cách mạng, vì nó mô tả bản chất và phạm vi hoạt động cốt lõi của công nghệ nano.

Question 16. C

Thông tin trong bài: “…Norio Taniguchi… reintroduced Feynman’s theory and put a new name to an old concept, referring to the science as ‘nanotechnology’.”

Giải thích: Đoạn C đề cập việc Norio Taniguchi đặt lại tên cho một khái niệm đã được Feynman đưa ra trước đó. Hành động “đặt tên mới cho ý tưởng cũ” chính là biểu hiện của việc “tái đóng gói” một ý tưởng đã tồn tại, phù hợp với mô tả trong câu hỏi.

Question 17. E

Thông tin trong bài: “…the very properties that make nanoparticles so valuable… are also the ones that make them potentially so toxic.”

Giải thích: Đoạn E tập trung vào các đặc tính gây tranh cãi của hạt nano, đặc biệt là tính chất vừa hữu ích vừa có khả năng gây độc. Sự tồn tại của các rủi ro và tính không chắc chắn khiến các đặc tính này được xem là “dubious” (đáng nghi ngờ), đúng với yêu cầu của câu hỏi.

Question 18. C

Thông tin trong bài: “The invention of the Scanning Tunnelling Microscope (STM), combined with the discovery of nano-sized particles termed ‘fullerenes’, were to prove a turning point in nanotechnology.”

Giải thích: Đoạn C nêu hai phát minh quan trọng (STM và fullerenes) đóng vai trò bước ngoặt, tạo nền tảng cho việc chuyển từ lý thuyết sang ứng dụng thực tiễn. Những yếu tố này chính là nền móng hình thành công nghệ nano hiện đại.

Question 19. C 

Thông tin trong bài: “…nanotechnology has yet to win wider universal acceptance in scientific circles… Scientists have yet to convince the nanotechnology sceptics…”

Giải thích: Công nghệ nano chưa được chấp nhận rộng rãi và còn tồn tại nhiều tranh luận trong giới khoa học. Sự hoài nghi và tranh cãi về lợi ích và rủi ro cho thấy lĩnh vực này gây ra tranh cãi, phù hợp với phương án C.

Question 20. A

Thông tin trong bài: “Strangely, what should have sparked a scientific revolution was then virtually forgotten about for the next 15 years.”

Giải thích: Sau khi được Feynman đề xuất, công nghệ nano không được chú ý trong một khoảng thời gian dài và gần như bị lãng quên. Điều này cho thấy nó bị bỏ qua như một lĩnh vực khoa học trong giai đoạn đầu.

Question 21. B

Thông tin trong bài: “Whilst some of these substances derived from carbon compounds are manufactured, others… are naturally-occurring or arise as a by-product of another process…”

Giải thích: Hạt nano có thể được tạo ra từ quá trình sản xuất nhân tạo hoặc xuất hiện tự nhiên như tro núi lửa hay khói. Do đó, nguồn gốc của chúng bao gồm cả tự nhiên và nhân tạo. 

Question 22. A 

Thông tin trong bài: “…it wasn’t until nearly a decade later… that the way was paved for nanotechnology to leave the realm of theoretical science and become reality… The invention of the Scanning Tunnelling Microscope… combined with the discovery of… ‘fullerenes’…”

Giải thích: Công nghệ nano chỉ trở thành thực tiễn khi các công nghệ hỗ trợ như STM và việc phát hiện fullerenes xuất hiện. Những tiến bộ này cho thấy các công nghệ khác đã phát triển đủ để bắt kịp và hỗ trợ hiện thực hóa nanotechnology.

Question 23. C

Thông tin trong bài: “…risks can be put in place to minimise such risks… such risks are vastly outweighed by the potential benefits…”

Giải thích: Các rủi ro liên quan đến công nghệ nano được thừa nhận là có thật, tuy nhiên có thể kiểm soát thông qua quy định và biện pháp an toàn. Đồng thời, lợi ích được đánh giá vượt trội so với rủi ro, cho thấy các vấn đề an toàn là có nhưng có thể quản lý được.

Question 24. turning point

Thông tin trong bài: “…were to prove a turning point in nanotechnology.”

Giải thích: Cụm “turning point” được sử dụng trực tiếp để mô tả bước ngoặt quan trọng khi hai phát minh lớn giúp nanotechnology chuyển từ lý thuyết sang ứng dụng thực tế.

Question 25. wider universal acceptance

Thông tin trong bài: “…nanotechnology has yet to win wider universal acceptance in scientific circles.” 

Giải thích: Cụm này phản ánh việc công nghệ nano chưa được chấp nhận rộng rãi trong cộng đồng khoa học, đúng với yêu cầu điền từ trong câu.

Question 26. cell membranes

Thông tin trong bài: “…their minute size which allows them to penetrate cell membranes.”

Giải thích: Khả năng xuyên qua màng tế bào là đặc điểm quan trọng của hạt nano, vừa mang lại lợi ích trong y học vừa tiềm ẩn rủi ro khi đưa chất độc vào cơ thể. Cụm “cell membranes” được trích trực tiếp từ nội dung bài đọc.

Học mãi mà IELTS không lên band? Học thử IELTS miễn phí cùng giáo viên 7.5+, chấm chữa lỗi sai ngay lập tức.
👉 Đăng ký học thử miễn phí ngay

3. Passage 3: Mechanisms of Linguistic Change

3.1. Đề thi Mechanisms of Linguistic Change

Mechanisms of Linguistic Change

A. The changes that have caused the most disagreement are those in pronunciation.

We have various sources of evidence for the pronunciations of earlier times, such as the spellings, the treatment of words borrowed from other languages or borrowed by them, the descriptions of contemporary grammarians and spelling-reformers, and the modern pronunciations in all the languages and dialects concerned From the middle of the sixteenth century, there are in England writers who attempt to describe the position of the speech-organs for the production of English phonemes, and who invent what are in effect systems of phonetic symbols. These various kinds of evidence, combined with a knowledge of the mechanisms of speech-production, can often give us a very good idea of the pronunciation of an earlier age, though absolute certainty is never possible.

B. When we study the pronunciation of a language over any period of a few generations or more, we find there are always large-scale regularities in the changes:

for example, over a certain period of time, just about all the long [a:] vowels in a language may change into long [e:] vowels, or all the [b] consonants in a certain position (for example at the end of a word) may change into [p] consonants. Such regular changes are often called sound laws. There are no universal sound laws (even though sound laws often reflect universal tendencies), but simply particular sound laws for one given language (or dialect) at one given period.

C. It is also possible that fashion plays a part in the process of change.

It certainly plays a part in the spread of change: one person imitates another, and people with the most prestige are most likely to be imitated, so that a change that takes place in one social group may be imitated (more or less accurately) by speakers in another group. When a social group goes up or down in the world, its pronunciation of Russian, which had formerly been considered desirable, became on the contrary an undesirable kind of accent to have, so that people tried to disguise it. Some of the changes in accepted English pronunciation in the seventeenth and eighteenth centuries have been shown to consist in the replacement of one style of pronunciation by another style already existing, and it is likely that such substitutions were a result of the great social changes of the period: the increased power and wealth of the middle classes, and their steady infiltration upwards into the ranks of the landed gentry, probably carried elements of middle-class pronunciation into upper-class speech.

D. A less specific variant of the argument is that the imitation of children is imperfect:

they copy their parents’ speech, but never reproduce it exactly. This is true, but it is also true that such deviations from adult speech are usually corrected in later childhood. Perhaps it is more significant that even adults show a certain amount of random variation in their pronunciation of a given phoneme, even if the phonetic context is kept unchanged. This, however, cannot explain changes in pronunciation unless it can be shown that there is some systematic trend in the failures of imitation: if they are merely random deviations they will cancel one another out and there will be no net change in the language.

E. One such force which is often invoked is the principle of ease, or minimization of effort.

The change from fussy to fuzzy would be an example of assimilation, which is a very common kind of change. Assimilation is the changing of a sound under the influence of a neighbouring one. For example, the word scant was once skamt, but the /m/ has been changed to /n/ under the influence of the following /t/. Greater efficiency has hereby been achieved, because /n/ and /t/ are articulated in the same place (with the tip of the tongue against the teeth-ridge), whereas /m/ is articulated elsewhere (with the two lips). So the place of articulation of the nasal consonant has been changed to conform with that of the following plosive. A more recent example of the same kind of thing is the common pronunciation of football as football.

F. Assimilation is not the only way in which we change our pronunciation in order to increase efficiency.

It is very common for consonants to be lost at the end of a word: in Middle English, word-final [-n] was often lost in unstressed syllables, so that baken ‘to bake’ changed from [‘ba:kan] to [‘ba:k3], and later to [ba:k]. Consonant-clusters are often simplified. At one time there was a [t] in words like castle and Christmas, and an initial [k] in words like knight and know. Sometimes a whole syllable is dropped out when two successive syllables begin with the same consonant (haplology): a recent example is temporary, which in Britain is often pronounced as if it were tempory.

Questions 27 – 30

Complete the summary below.

Choose NO MORE THAN THREE WORDS from the passage for each answer.

The pronunciation of living language undergo changes throughout thousands of years. Large-scale regular changes are usually called 27…………… . There are three reasons for these changes. Firstly, the influence of one language on another; when one person imitates another pronunciation(the most prestige’s), the imitation always partly involving factor of 28 …………… . Secondly, the imitation of children from adults language sometimes are 29 ……………, and may also contribute to this change if there are insignificant deviations though later they may be corrected. Finally, for those random variations in pronunciation, the deeper evidence lies in the 30 …………… or minimization of effort.

Questions 31 – 37

Do the following statements agree with the information given in Reading Passage?

In boxes 31-37 on your answer sheet, write:

TRUE if the statement agrees with the information
FALSE if the statement contradicts the information
NOT GIVEN if there is no information on this
  1. It is impossible for modern people to find pronunciation of words in an earlier age

  2. The great change of language in Russian history is related to the rising status and fortune of middle classes.

  3. All the children learn speeches from adults while they assume that certain language is difficult to imitate exactly.

  4. Pronunciation with causal inaccuracy will not exert big influence on language changes.

  5. The word scant can be pronounced more easily than skamt

  6. The [g] in gnat not being pronounced will not be spelt out in the future.

  7. The sound of ‘temporary’ cannot wholly present its spelling.

Questions 38 – 40

Look at the following sentences and the list of statements below. Match each statement with the correct sentence, A-D.

Write the correct letter, A-D, in boxes 38-40 on your answer sheet.

  • A. Since the speakers can pronounce it with less effort

  • B. Assimilation of a sound under the influence of a neighbouring one

  • C. It is a trend for changes in pronunciation in a large scale in a given period

  • D. Because the speaker can pronounce [n] and [t] both in the same time

38. As a consequence, ‘b’ will be pronounced as

39. The pronunciation of [mt] changed to [nt]

40. The omit of ‘t” in the sound of Christmas

>> Xem thêm: Tổng hợp tài liệu luyện thi IELTS Reading miễn phí cơ bản đến nâng cao

3.2. Bài dịch Mechanisms of Linguistic Change

Cơ chế của sự thay đổi ngôn ngữ

A. Những thay đổi gây ra nhiều tranh luận nhất là các thay đổi trong phát âm. Có nhiều nguồn bằng chứng khác nhau về cách phát âm trong các thời kỳ trước đây, chẳng hạn như cách viết, cách xử lý các từ được vay mượn từ ngôn ngữ khác hoặc được ngôn ngữ khác vay mượn, các mô tả của các nhà ngữ pháp và những người cải cách chính tả đương thời, cũng như cách phát âm hiện đại trong tất cả các ngôn ngữ và phương ngữ liên quan. Từ giữa thế kỷ XVI, ở Anh đã có những tác giả cố gắng mô tả vị trí của các cơ quan phát âm để tạo ra các âm vị tiếng Anh, và họ đã phát minh ra những hệ thống ký hiệu ngữ âm thực chất. Những loại bằng chứng này, kết hợp với hiểu biết về cơ chế tạo ra lời nói, thường có thể cho chúng ta một ý tưởng khá chính xác về cách phát âm của thời kỳ trước, mặc dù không bao giờ có thể đạt được sự chắc chắn tuyệt đối.

B. Khi nghiên cứu cách phát âm của một ngôn ngữ qua một khoảng thời gian vài thế hệ hoặc lâu hơn, có thể nhận thấy luôn tồn tại những quy luật thay đổi trên diện rộng. Ví dụ, trong một khoảng thời gian nhất định, gần như tất cả các nguyên âm dài [a:] trong một ngôn ngữ có thể chuyển thành nguyên âm dài [e:], hoặc tất cả các phụ âm [b] trong một vị trí nhất định (ví dụ ở cuối từ) có thể chuyển thành phụ âm [p]. Những thay đổi có tính hệ thống như vậy thường được gọi là “quy luật âm thanh”. Không có quy luật âm thanh mang tính phổ quát (mặc dù chúng thường phản ánh các xu hướng phổ quát), mà chỉ tồn tại các quy luật âm thanh cụ thể cho từng ngôn ngữ (hoặc phương ngữ) trong từng giai đoạn cụ thể.

C. Cũng có khả năng rằng yếu tố thời trang (xu hướng) đóng vai trò trong quá trình thay đổi. Nó chắc chắn đóng vai trò trong việc lan truyền sự thay đổi: một người bắt chước người khác, và những người có uy tín cao nhất có khả năng được bắt chước nhiều nhất, do đó một thay đổi xảy ra trong một nhóm xã hội có thể được các nhóm khác bắt chước (ít nhiều chính xác). Khi một nhóm xã hội thăng hoặc suy giảm địa vị, cách phát âm của họ có thể bị nhìn nhận theo hướng tương ứng. Ví dụ, giọng Nga từng được coi là đáng mong muốn, nhưng sau đó lại bị xem là không hấp dẫn, khiến mọi người cố gắng che giấu nó. Một số thay đổi trong cách phát âm tiếng Anh được chấp nhận vào thế kỷ XVII và XVIII đã được chứng minh là sự thay thế của một phong cách phát âm bằng một phong cách khác đã tồn tại sẵn, và có khả năng những sự thay thế này là kết quả của những thay đổi xã hội lớn trong thời kỳ đó: sự gia tăng quyền lực và sự giàu có của tầng lớp trung lưu, cùng với sự gia nhập dần dần của họ vào tầng lớp quý tộc địa chủ, đã đưa các yếu tố phát âm của tầng lớp trung lưu vào lời nói của tầng lớp thượng lưu.

D. Một biến thể ít cụ thể hơn của lập luận này cho rằng việc trẻ em bắt chước là không hoàn hảo: trẻ em sao chép lời nói của cha mẹ nhưng không bao giờ tái tạo chính xác. Điều này là đúng, nhưng cũng đúng rằng những sai lệch so với lời nói của người lớn thường được điều chỉnh trong giai đoạn cuối của tuổi thơ. Có lẽ đáng chú ý hơn là ngay cả người trưởng thành cũng thể hiện một mức độ biến thiên ngẫu nhiên nhất định trong cách phát âm của một âm vị, ngay cả khi bối cảnh ngữ âm không thay đổi. Tuy nhiên, điều này không thể giải thích các thay đổi trong phát âm trừ khi chứng minh được rằng có một xu hướng có hệ thống trong các sai lệch bắt chước: nếu chúng chỉ là những sai lệch ngẫu nhiên thì chúng sẽ triệt tiêu lẫn nhau và sẽ không tạo ra thay đổi ròng trong ngôn ngữ.

E. Một trong những yếu tố thường được viện dẫn là nguyên tắc tiện lợi, hay tối thiểu hóa nỗ lực. Sự thay đổi từ “fussy” sang “fuzzy” là một ví dụ về đồng hóa (assimilation), một loại thay đổi rất phổ biến. Đồng hóa là sự thay đổi của một âm dưới ảnh hưởng của âm lân cận. Ví dụ, từ “scant” từng là “skamt”, nhưng âm /m/ đã được thay đổi thành /n/ dưới ảnh hưởng của âm /t/ đứng sau. Nhờ đó đạt được hiệu quả cao hơn, vì /n/ và /t/ được phát âm ở cùng một vị trí (đầu lưỡi chạm vào lợi trên), trong khi /m/ được phát âm ở vị trí khác (hai môi). Do đó, vị trí phát âm của phụ âm mũi đã được điều chỉnh để phù hợp với phụ âm tắc phía sau. Một ví dụ gần đây hơn là cách phát âm phổ biến của “football” thành “football”.

F. Đồng hóa không phải là cách duy nhất mà cách phát âm được thay đổi nhằm tăng hiệu quả. Việc mất phụ âm ở cuối từ rất phổ biến: trong tiếng Anh trung đại, âm cuối [-n] thường bị lược bỏ trong các âm tiết không nhấn, do đó “baken” (nướng) từ [‘ba:kan] đã chuyển thành [‘ba:kə], và sau đó thành [ba:k]. Các cụm phụ âm thường được đơn giản hóa. Từng có âm [t] trong các từ như “castle” và “Christmas”, và âm đầu [k] trong các từ như “knight” và “know”. Đôi khi cả một âm tiết bị lược bỏ khi hai âm tiết liên tiếp bắt đầu bằng cùng một phụ âm (haplology): một ví dụ gần đây là “temporary”, trong tiếng Anh Anh thường được phát âm như “tempory”.

3.3. Đáp án Mechanisms of Linguistic Change

Dưới đây là đáp án cho IELTS Reading ngày 10.03.2026: Mechanisms of Linguistic Change:

Đáp án IELTS Reading Mechanisms of Linguistic Change ngày 10.03.2026

Câu

Đáp án

27

sound laws

28

fashion

29

imperfect

30

principle of ease

31

FALSE

32

FALSE

33

NOT GIVEN

34

TRUE

35

TRUE

36

NOT GIVEN

37

TRUE

38

C

39

B

40

A

Giải thích chi tiết

Question 28: fashion

Thông tin trong bài: “It is also possible that fashion plays a part in the process of change.” (Đoạn C)

Giải thích chi tiết: Chỗ trống mô tả một “yếu tố” tham gia vào quá trình lan truyền thay đổi phát âm thông qua bắt chước, đặc biệt là bắt chước nhóm “có uy tín”. Đoạn C nêu rõ “fashion” (mốt/xu hướng xã hội) có thể đóng vai trò trong quá trình thay đổi và nhấn mạnh cơ chế lây lan: người nói bắt chước người khác, nhóm có uy tín dễ được bắt chước nhất, từ đó biến một biến thể phát âm của một nhóm thành chuẩn lan rộng. Do đó, “fashion” là từ khóa đúng vì bài dùng chính thuật ngữ này để giải thích ảnh hưởng của uy tín/xu hướng xã hội đến thay đổi phát âm.

Question 29: imperfect

Thông tin trong bài: “the imitation of children is imperfect: they copy their parents’ speech, but never reproduce it exactly.” (Đoạn D)

Giải thích chi tiết: Chỗ trống nói về việc trẻ em bắt chước ngôn ngữ người lớn “đôi khi” không hoàn toàn chính xác. Đoạn D nêu trực tiếp luận điểm: “the imitation of children is imperfect”, rồi giải thích ngay rằng trẻ em sao chép lời nói của cha mẹ nhưng không tái tạo hoàn toàn giống hệt. Vì yêu cầu “NO MORE THAN THREE WORDS”, từ “imperfect” đáp ứng đúng giới hạn và phản ánh đúng ý “bắt chước không hoàn hảo” trong bài.

Question 30: principle of ease

Thông tin trong bài: “the principle of ease, or minimization of effort.” (Đoạn E)

Giải thích chi tiết: Chỗ trống gắn với ý “minimization of effort” (tối thiểu hóa công sức). Đoạn E gọi lực thúc đẩy này là “principle of ease” và đồng nhất nó với “minimization of effort”. Vì câu tóm tắt đã nhắc “minimization of effort”, cụm “principle of ease” là đáp án chính xác theo đúng cách bài định danh cơ chế này.

Question 31: FALSE

Thông tin trong bài: “These various kinds of evidence… can often give us a very good idea of the pronunciation of an earlier age, though absolute certainty is never possible.” (Đoạn A)

Giải thích chi tiết: Mệnh đề khẳng định “không thể” xác định phát âm thời trước. Đoạn A lại khẳng định điều ngược lại: bằng nhiều nguồn chứng cứ (chính tả, vay mượn ngôn ngữ, mô tả của ngữ pháp gia đương thời, hệ thống ký hiệu gần-phiên-âm…) kết hợp hiểu biết cơ chế cấu âm, vẫn “thường” có thể hình dung “rất tốt” về phát âm quá khứ. Điểm hạn chế duy nhất là “không bao giờ có chắc chắn tuyệt đối”, không phải “bất khả”. Vì vậy mệnh đề bị mâu thuẫn với bài → FALSE.

Question 32: FALSE

Thông tin trong bài:

  • Về tiếng Nga: “When a social group goes up or down in the world, its pronunciation of Russian… became… undesirable…” (Đoạn C)
  • Về trung lưu (nhưng là tiếng Anh): “Some of the changes in accepted English pronunciation… the increased power and wealth of the middle classes…” (Đoạn C)

Giải thích chi tiết: Mệnh đề gắn “thay đổi lớn trong lịch sử tiếng Nga” với “sự đi lên về địa vị và tài sản của tầng lớp trung lưu”. Đoạn C có nhắc tiếng Nga, nhưng nội dung là sự thay đổi “đáng mong muốn/không mong muốn” của một kiểu giọng khi một nhóm xã hội bất kỳ thăng/giáng địa vị. Phần “middle classes” (tầng lớp trung lưu) lại xuất hiện trong ví dụ về thay đổi phát âm tiếng Anh thế kỷ XVII–XVIII, không phải tiếng Nga. Do đó mệnh đề đã gán sai đối tượng (Russian vs English) và diễn giải không đúng trọng tâm của đoạn tiếng Nga → FALSE.

Question 33: NOT GIVEN

Thông tin trong bài: “they copy their parents’ speech, but never reproduce it exactly.” (Đoạn D)

Giải thích chi tiết: Bài chỉ nêu hiện tượng bắt chước của trẻ em “không hoàn hảo” và khả năng các sai lệch thường được sửa về sau. Không có thông tin về việc “tất cả trẻ em” đều học lời nói từ người lớn theo cách tuyệt đối, cũng không có nội dung rằng trẻ em “cho rằng một ngôn ngữ nhất định khó bắt chước chính xác”. Vì các thành phần quan trọng (“all”, “assume… difficult”) không được đề cập, không thể suy ra đúng/sai từ bài → NOT GIVEN.

Question 34: TRUE

Thông tin trong bài: “if they are merely random deviations they will cancel one another out and there will be no net change in the language.” (Đoạn D)

Giải thích chi tiết: Mệnh đề nói sai số phát âm “ngẫu nhiên” sẽ không gây ảnh hưởng lớn đến biến đổi ngôn ngữ. Đoạn D lập luận rõ: biến thiên ngẫu nhiên ở người lớn tồn tại, nhưng nếu chỉ là lệch ngẫu nhiên thì sẽ triệt tiêu lẫn nhau và không tạo ra “thay đổi ròng” của ngôn ngữ. Điều này khớp trực tiếp với ý “không exert big influence” khi thiếu xu hướng có hệ thống → TRUE.

Question 35: TRUE

Thông tin trong bài: “the word scant was once skamt, but the /m/ has been changed to /n/… Greater efficiency has hereby been achieved, because /n/ and /t/ are articulated in the same place…” (Đoạn E)

Giải thích chi tiết: Mệnh đề so sánh mức độ dễ phát âm giữa “scant” và dạng cũ “skamt”. Đoạn E nêu rõ chuyển đổi /m/ → /n/ trước /t/ tạo “greater efficiency” do /n/ và /t/ đồng vị trí cấu âm (đầu lưỡi chạm sống răng), trong khi /m/ cấu âm ở môi. “Greater efficiency” tương ứng trực tiếp với “ít tốn công hơn/dễ hơn”. Vì vậy “scant” (dạng có /n/ trước /t/) được mô tả là hiệu quả hơn → TRUE.

Question 36: NOT GIVEN

Thông tin trong bài: “At one time there was a [t] in words like castle and Christmas, and an initial [k] in words like knight and know.” (Đoạn F)

Giải thích chi tiết: Mệnh đề dự đoán về tương lai chính tả của từ “gnat” khi âm [g] không phát âm. Đoạn F chỉ cung cấp ví dụ lịch sử về phụ âm từng được phát âm nhưng hiện không phát âm trong một số từ (castle, Christmas, knight, know), nhằm minh họa hiện tượng rụng phụ âm/đơn giản hóa cụm phụ âm. Không có nhắc đến “gnat”, và cũng không có kết luận nào về việc “sẽ không còn được viết trong tương lai”. Vì thiếu dữ kiện về cả từ khóa lẫn dự báo chính tả tương lai → NOT GIVEN.

Question 37: TRUE

Thông tin trong bài: “a recent example is temporary, which in Britain is often pronounced as if it were tempory.” (Đoạn F)

Giải thích chi tiết: Mệnh đề nói phát âm của “temporary” không thể phản ánh đầy đủ chính tả. Đoạn F chỉ ra cách phát âm thông dụng (ở Anh) giống “tempory”, tức là có hiện tượng rút gọn/rụng âm tiết (haplology). Khi phát âm không còn tương ứng đầy đủ với chuỗi chữ cái trong chính tả “temporary”, có thể kết luận phát âm không “wholly present its spelling” → TRUE.

Question 38: C

Thông tin trong bài: “over a certain period of time… all the [b] consonants in a certain position… may change into [p] consonants. Such regular changes are often called sound laws.” (Đoạn B)

Giải thích chi tiết: Câu mô tả “hệ quả” là âm /b/ sẽ được phát âm thành âm khác (ngụ ý /p/). Đoạn B đưa đúng ví dụ về quy luật biến đổi hàng loạt: toàn bộ [b] trong một vị trí nhất định có thể chuyển thành [p] trong một giai đoạn. Đây chính là “xu hướng thay đổi phát âm trên quy mô lớn trong một thời kỳ nhất định”, đúng với mô tả của lựa chọn C.

Question 39: B

Thông tin trong bài: “Assimilation is the changing of a sound under the influence of a neighbouring one. For example… skamt… changed to /n/ under the influence of the following /t/.” (Đoạn E)

Giải thích chi tiết: Câu nêu biến đổi cụm [mt] → [nt]. Đoạn E định nghĩa thẳng “assimilation” là âm thay đổi do ảnh hưởng của âm lân cận và minh họa bằng skamt → scant, trong đó /m/ đổi thành /n/ vì âm /t/ theo sau. Đây đúng là “đồng hóa do ảnh hưởng của âm kế cận”, trùng khít lựa chọn B.

Question 40: A

Thông tin trong bài:

  • “Assimilation is not the only way… to increase efficiency.” (Đoạn F)
  • “Consonant-clusters are often simplified. At one time there was a [t] in words like… Christmas.” (Đoạn F)

Giải thích chi tiết: Câu nói về việc bỏ âm [t] trong “Christmas”. Đoạn F đặt hiện tượng này trong khung giải thích “tăng hiệu quả cấu âm” (increase efficiency) và nêu cụ thể việc đơn giản hóa cụm phụ âm, trong đó [t] từng tồn tại trong “Christmas” nhưng bị lược bỏ. Việc lược bỏ phụ âm trong cụm phụ âm là một cơ chế giảm nỗ lực phát âm, phù hợp với phát biểu A (“Since the speakers can pronounce it with less effort”).

>> Xem thêm: Top Website luyện IELTS Reading miễn phí tốt nhất, đạt band mục tiêu

4. Khoá học IELTS Online tại Langmaster - Chinh phục band điểm mơ ước

IELTS Reading không khó vì từ vựng quá cao siêu, mà khó ở tư duy học thuật và bẫy paraphrase. Nhiều thí sinh mất điểm do đọc lướt, hiểu sai yêu cầu hoặc không nắm được logic ra đề, đặc biệt ở các dạng True/False/Not Given và Matching Headings.

Để cải thiện Reading một cách thực chất, người học không chỉ cần luyện đề mà còn phải được hướng dẫn phương pháp bài bản và sửa lỗi chi tiết. Trong số các lựa chọn hiện nay, Langmaster được đánh giá là một trong những trung tâm đào tạo IELTS uy tín với phương pháp giảng dạy bài bản, không chỉ giúp người học cải thiện Reading một cách bền vững mà còn phát triển đồng đều cả Listening, Speaking và Writing, hướng tới mục tiêu nâng cao năng lực sử dụng tiếng Anh toàn diện.

Lộ trình khóa IELTS

Ưu điểm nổi bật của khóa học IELTS Online tại Langmaster:

  • Mô hình lớp sĩ số nhỏ (7–10 học viên): Tăng cường tương tác hai chiều, giúp giảng viên theo sát tiến độ từng người, chỉnh sửa cách tư duy làm bài Reading và kịp thời xử lý lỗ hổng kiến thức.

  • Coaching 1:1 cùng chuyên gia: Hỗ trợ chuyên sâu vào từng dạng bài khó như Matching Headings, True/False/Not Given hay Summary Completion, từ đó xây dựng chiến lược cá nhân hóa để tối ưu điểm số.

  • Lộ trình cá nhân hóa theo mục tiêu band: Sau bài test đầu vào, chương trình học được thiết kế sát trình độ thực tế, giúp tập trung đúng điểm yếu (tốc độ đọc, từ vựng học thuật, kỹ năng định vị thông tin…), tiết kiệm thời gian ôn luyện.

  • Chấm chữa chi tiết trong 24h bởi giảng viên IELTS 7.5+: Không chỉ chỉ ra đáp án đúng – sai mà còn phân tích logic ra đề và cách tránh bẫy paraphrase, giúp người học hiểu bản chất thay vì ghi nhớ máy móc.

  • Thi thử chuẩn format đề thi thật: Rèn luyện khả năng quản lý thời gian và giữ sự ổn định tâm lý khi xử lý 3 passage liên tiếp.

  • Học online với hệ sinh thái hỗ trợ đầy đủ: Đảm bảo chất lượng tương đương học trực tiếp và minh bạch về mục tiêu điểm số.

  • Chi phí tiết kiệm chỉ từ 2–3 triệu/tháng, cam kết đầu ra rõ ràng: Mức học phí phù hợp với sinh viên và người đi làm, đảm bảo chất lượng giảng dạy với cam kết đầu ra bằng văn bản và học lại miễn phí.

Ngoài việc học online linh hoạt, học viên cũng có thể cân nhắc tham gia các lớp học offline tại Hà Nội để tăng cường sự tương tác trực tiếp với giáo viên. Hiện tại, học viên có thể lựa chọn học tại 3 cơ sở thuận tiện di chuyển:

    • 169 Xuân Thủy

    • 179 Trường Chinh

    • N03-T7 Ngoại Giao Đoàn

Đăng ký học thử IELTS Online tại Langmaster ngay hôm nay để bắt đầu hành trình chinh phục mục tiêu IELTS của bạn!

Học tiếng Anh Langmaster

Học tiếng Anh Langmaster

Langmaster là hệ sinh thái đào tạo tiếng Anh toàn diện với 16+ năm uy tín, bao gồm các chương trình: Tiếng Anh giao tiếp, Luyện thi IELTS và tiếng Anh trẻ em. 800.000+ học viên trên toàn cầu, 95% học viên đạt mục tiêu đầu ra.

Nội Dung Hot

KHOÁ HỌC TRỰC TUYẾN 1 KÈM 1

KHÓA TIẾNG ANH GIAO TIẾP 1 KÈM 1

  • Học và trao đổi trực tiếp 1 thầy 1 trò.
  • Giao tiếp liên tục, sửa lỗi kịp thời, bù đắp lỗ hổng ngay lập tức.
  • Lộ trình học được thiết kế riêng cho từng học viên.
  • Dựa trên mục tiêu, đặc thù từng ngành việc của học viên.
  • Học mọi lúc mọi nơi, thời gian linh hoạt.

Chi tiết

khóa ielts online

KHÓA HỌC IELTS ONLINE

  • Sĩ số lớp nhỏ (7-10 học viên), đảm bảo học viên được quan tâm đồng đều, sát sao.
  • Giáo viên 7.5+ IELTS, chấm chữa bài trong vòng 24h.
  • Lộ trình cá nhân hóa, coaching 1-1 cùng chuyên gia.
  • Thi thử chuẩn thi thật, phân tích điểm mạnh - yếu rõ ràng.
  • Cam kết đầu ra, học lại miễn phí.

Chi tiết

null

KHÓA TIẾNG ANH TRẺ EM

  • Giáo trình Cambridge kết hợp với Sách giáo khoa của Bộ GD&ĐT hiện hành
  • 100% giáo viên đạt chứng chỉ quốc tế IELTS 7.0+/TOEIC 900+
  • X3 hiệu quả với các Phương pháp giảng dạy hiện đại
  • Lộ trình học cá nhân hóa, con được quan tâm sát sao và phát triển toàn diện 4 kỹ năng

Chi tiết


Bài viết khác